Chuyên mục "Góc chăm sóc bé"

Th16 2018

BỆNH VIÊM PHỔI – CÁCH NHẬN BIẾT VÀ CHĂM SÓC

1. Bệnh Viêm phổi là gì?

Viêm phổi là một trong những nguyên nhân gây tử vong nhiều nhất cho trẻ em trên thế giới, đặc biệt là trẻ em các nước nghèo và đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Vào mùa Đông Xuân khi  thời tiết còn đang lạnh, số lượng bệnh nhi nhập viện vì viêm phổi tăng cao. Vậy đối với những trẻ này cần được điều trị và chăm sóc như thế nào?

Viêm phổi là tình trạng nhiễm trùng nhu mô phổi, gây ra chứng ho, sốt và khó thở. Đây là một bệnh lý nặng, đặc biệt là ở trẻ em. Viêm phổi có thể gây ra bởi vi khuẩn, virus, nấm, ký sinh trùng. Các tác nhân gây viêm phổi thay đổi theo lứa tuổi, cụ thể như sau: Ở trẻ em trên 5 tuổi viêm phổi do vi khuẩn là thường gặp hơn cả. Ở trẻ nhỏ và trẻ dưới 5 tuổi, viêm phổi do virus thường gặp nhiều hơn.

2. Cách nhận biết trẻ bị viêm phổi

Các triệu chứng bệnh phổ biến bao gồm: Ho, sốt, thở nhanh hơn bình thường, khó thở hoặc đau khi hít vào. Đối với trẻ nhỏ rối loạn ăn uống, biếng ăn là hay gặp.

Cách theo dõi nhịp thở: Bạn hãy đề nghị bác sĩ hướng dẫn bạn cách đếm nhịp thở cho con. Cách làm như sau: Hãy để con bạn ngủ yên, bạn đếm khi trẻ không sốt hoặc chỉ sốt nhẹ (dưới 38 độ), kéo áo con lên quan sát bụng và ngực con. Mỗi lần bụng trẻ nhô lên hụp xuống tính là 1 nhịp thở, bạn phải đếm đúng trong vòng 1 phút.

Gọi là thở nhanh khi: Thở trên 60 lần trở lên với trẻ dưới 2 tháng; trên 50 lần với trẻ 2- 12 tháng; trên 40 lần với trẻ 1-5 tuổi; trên 20 lần trở với trẻ từ 5 tuổi trở lên; khi thấy trẻ thở nhanh bạn phải đếm lại 2-3 lần cho chắc chắn.

Không phải tất cả trẻ con bị viêm phổi đều có triệu chứng giống nhau. Nhưng nếu đứa trẻ có tình trạng giống như nói ở trên và có cả 2 triệu chứng là ho và sốt thì có khả năng trẻ bị viêm phổi.

3. Khi nào đưa trẻ tới gặp bác sĩ?

Viêm phổi là một bệnh nặng và có thể gây tử vong, do đó nếu bạn nghĩ con bạn có khả năng viêm phổi hãy đưa tới gặp bác sĩ nhi khoa ngay lập tức. Hãy gọi xe cấp cứu để được hỗ trợ kịp thời nếu con có một trong các triệu chứng sau: Ngưng thở, da xanh tái hoặc nhợt nhạt, rất khó thở, thở rên, trông trẻ có vẻ rất mệt mỏi và rất gắng sức mới thở được.

Việc điều trị sẽ phụ thuộc vào độ tuổi của trẻ, mức độ nặng của bệnh và tác nhân gây viêm phổi là virus hay vi khuẩn. Đối với những trẻ bệnh rất nặng hoặc tuổi nhỏ khi bị viêm phổi thì phải nhập viện điều trị.

Cần nhập viện khi: Tất cả trẻ dưới 3 tháng có biểu hiện viêm phổi. Trẻ trên 3 tháng viêm phổi và sốt cao trên 38,5 độ C. Suy hô hấp mức độ trung bình đến nặng (nhịp thở trung bình trên 70 lần ở trẻ dưới 1 tuổi, trên 50 lần với trẻ lớn, co lõm lồng ngực, khó thở nặng, thở rên, cánh mũi phập phồng, ngưng thở), tím tái, li bì, trẻ bỏ bú, mất nước (mắt trũng, tiểu ít)…

4. Lưu ý khi chăm sóc trẻ tại nhà

Hầu hết  trẻ em bị viêm phổi do vi khuẩn  sẽ bắt đầu cảm thấy tốt hơn sau  2-3 ngày kể từ khi  được điều trị bằng kháng sinh. Tuy nhiên trẻ có thể sẽ vẫn cảm thấy mệt và ho vài tuần sau đó, có khi cả tháng sau khi được điều trị. Do vậy, việc chăm sóc cho trẻ tại nhà tốt nhất là hãy cố gắng giữ cho trẻ được  thoải mái nhất có thể và chắc chắn rằng trẻ được nghỉ ngơi nhiều. Bạn nên  khuyến khích trẻ uống nhiều nước. Đối với nhũ nhi và trẻ  nhỏ, bạn nên cho trẻ từng lượng nhỏ nước uống chứ không cần quá nhiều cùng một lúc.

Th16 2018

TRẺ BỊ BỆNH SỞI – NÊN CHĂM SÓC NHƯ THẾ NÀO?

1. Bệnh sởi

Sởi là bệnh theo mùa, thường gặp ở trẻ nhỏ và là bệnh lành tính. Tuy nhiên, nếu không biết cách chăm sóc  đúng cách, trẻ có thể bị biến chứng dẫn đến tử vong. Những trẻ có nguy cơ mắc bệnh sởi cao là những trẻ có thể trạng yếu, sinh non, không được tiêm phòng vắc-xin phòng ngừa đầy đủ. Người lớn cũng có thể bị sởi nếu cơ thể không đủ miễn dịch với bệnh.

Bệnh sởi chưa có thuốc điều trị đặc hiệu, điều trị chủ yếu để phòng bội nhiễm và các biến chứng nặng do sởi gây ra. Do đó, việc chăm sóc cho trẻ đóng vai trò rất quan trọng. Khi có dấu hiệu của bệnh sởi, nên đến cơ sở y tế địa phương để được khám, điều trị và tư vấn về cách chăm sóc trẻ.

2. Chăm sóc trẻ bị bệnh sởi

Hầu hết những bệnh nhân mắc sởi thể nhẹ có thể được điều trị và chăm sóc tại nhà theo hướng dẫn của bác sĩ hoặc nhân viên y tế. Việc chăm sóc tại nhà phụ huynh cần chú ý những nguyên tắc quan trọng sau đây:

– Cho trẻ ăn thức ăn mềm lỏng, giàu dinh dưỡng, dễ tiêu hóa như cháo thịt, súp dinh dưỡng, sữa bột các loại… Bố mẹ nên chia thành nhiều bữa ăn, mỗi bữa ăn ít một để giúp trẻ nhận đủ chất dinh dưỡng cần thiết.

– Cho trẻ uống nhiều nước hơn bình thường nhất là những loại nước ép trái cây tươi để đảm bảo việc cung cấp đủ nguồn vitamin cho cơ thể, cải thiện sức đề kháng.

– Giữ vệ sinh thân thể tốt giúp da trẻ luôn sạch sẽ và khô thoáng để ngăn ngừa tình trạng bội nhiễm vi khuẩn có thể gây nguy hiểm cho trẻ, cho trẻ ở phòng thoáng, sáng, tránh gió lùa. Lau người cho trẻ hằng ngày bằng khăn sạch, mềm. Thường xuyên rửa mặt, lau mồm cho bé, thay ga, đệm, quần áo để đảm bảo giữ vệ sinh cho trẻ.

– Uống thuốc hạ sốt theo chỉ dẫn của cán bộ y tế, nhỏ mắt thường xuyên bằng nước muối sinh lý hoặc thuốc nhỏ mắt chloramphenicol 0,1% khoảng 3 – 4 lần/ngày.

–  Người chăm sóc trẻ phải rửa tay thường xuyên rửa tay bằng thuốc sát khuẩn hoặc rửa tay với xà phòng, đeo khẩu trang

– Nếu thấy trẻ bị sốt và phát ban, phụ huynh nghi ngờ trẻ bị sởi nên đưa trẻ đến khám bệnh tại cơ sở y tế nhà nước như trạm y tế phường/xã, trung tâm y tế quận/huyện vì nếu đúng trẻ mắc sởi thì bác sĩ sẽ kê đơn và cấp phát vitamin A viên nang liều cao 100.000 đơn vị để bảo vệ đôi mắt của trẻ.

– Khi trẻ có các dấu hiệu bất thường, ví dụ đã hết sốt tự nhiên xuất hiện sốt lại, không hạ sốt sau khi dùng thuốc, ho nhiều hơn và có đờm, khó thở, tím tái, li bì, nôn trớ nhiều, trẻ có biểu hiện chói mắt hoặc đi ngoài hoặc có các biểu hiện bất thường khác… thì cần đưa đi cơ sở y tế để được điều trị kịp thời.

Th16 2018

CÁCH BỔ SUNG DINH DƯỠNG CHO BÉ SAU KHI BỊ BỆNH

Bé bị bệnh sau khi khỏe dậy chắc chắn cần một sự quan tâm chăm sóc đặc biệt từ cha mẹ để có thể nhanh chóng phục hồi sức khỏe. Các bậc phụ huynh có thể tham khảo một số thông tin dưới đây để bổ sung dinh dưỡng cho bé sau khi bị bệnh một cách hợp lý nhé.

1. Cho bé ăn thức ăn dạng lỏng, tránh đồ ăn nhiều dầu mỡ

Bé mới bị bệnh khỏe dậy, cơ thể còn yếu, mẹ nên chế biến và cho bé ăn những loại thức ăn dạng lỏng như súp, canh, cháo loãng để bé dễ ăn và dễ tiêu. Sau đó mới tăng dần độ đặc của món ăn theo tốc độ phục hồi sức khỏe của bé đến khi bé hoàn toàn phục hồi mới cho bé ăn lại thức ăn như chế độ bình thường. Bên cạnh đó, mẹ cũng nên hạn chế cho bé ăn nhiều đường, đồ ăn nhanh, đồ chiên xào nhiều dầu mỡ vì chúng gây nguy cơ bé bị khó tiêu, nhất là với những bé bị tiêu chảy. Kết hợp với đó, mẹ nên cho bé uống nhiều nước, đặc biệt với những bé bị sốt cao, viêm hô hấp, sổ mũi để làm thông đường thở cho bé.

2. Cho bé sử dụng men vi sinh để tăng sức đề kháng cho bé

Sự xâm lấn quá quá mức của các vi khuẩn có hại là nguyên nhân dẫn đến sự suy giảm hệ miễn dịch, tăng nguy cơ mắc bệnh cho bé. Men vi sinh ngoài tác dụng đảm bảo hệ tiêu hóa hoạt động ổn định còn giúp tăng cường sức đề kháng cho cơ thể bé. Bởi trong men vi sinh có chứa các loại lợi khuẩn có khả năng làm tốt cả hai nhiệm vụ này. Do vậy, với các bé mới bị bệnh khỏe dậy, các mẹ nên cho bé sử dụng men vi sinh để sức khỏe nhanh chóng được phục hồi, bé ăn ngon miệng hơn, phát triển tốt hơn.

Bên cạnh đó các dưỡng chất như immune alpha và sữa non cũng rất cần thiết cho hệ miễn dịch của bé, các mẹ nên bổ sung thêm 2 dưỡng chất này qua các thực phẩm bổ sung để tăng cường sức đề kháng, giảm ốm vặt cho bé.

3. Tránh bồi bổ quá mức cho bé

Thực tế cho thấy, có rất nhiều bậc phụ huynh nghĩ rằng, sau khi bé khỏe dậy, cần phải bổ sung thật nhiều chất dinh dưỡng cho bé thì bé mới nhanh chóng phục hồi sức khỏe. Điều này không đúng các mẹ nhé. Do bé vừa trải qua một thời kỳ khó khăn, mệt mỏi chống lại bệnh tật nên không còn cảm giác thèm ăn như trước nữa, vì vậy đôi khi việc ép bé ăn quá nhiều vào thời điểm này không những không có tác dụng mà ngược lại nó còn có thể gây tổn hại thêm cho cơ thể bé. Thay vào đó, mẹ nên cho bé ăn đồ ăn dạng lỏng và ăn từng ít một vào nhiều thời điểm trong ngày.

4. Cho bé ăn thức ăn mà bé thích

Tùy vào sự lựa chọn theo sở thích của bé, mẹ có thể cung cấp cho bé đồ uống nóng, nước ép trái cây, trà mật ong, khoai tây nghiền, cháo cà rốt nghiền, bánh mì nướng, sữa chua, các loại trái cây khô… miễn sao đó là món ăn ưa thích của bé. Bởi, sau khi bé bị bệnh khỏe dậy, giống như người lớn, bé sẽ mất cảm giác thèm ăn, rất dễ mắc chứng biếng ăn. Việc cho bé ăn những món mà bé thích sẽ giúp bé sớm lấy lại được cảm giác muốn được ăn một cách tự nhiên nhất.

Việc bổ sung dinh dưỡng cho bé sau khi bị bệnh một cách hợp lý là vô cùng cần thiết và quan trọng. Bởi thời gian này, cơ thể bé còn quá yếu và có nhiều biến đổi. Các bậc phụ huynh nên lưu ý tham khảo những thông tin chúng tôi cung cấp trong bài viết này để chăm sóc con yêu một cách khoa học nhất nhé! Chúc các bé mau chóng phục hồi, lớn nhanh và khỏe mạnh!

Th16 2018

TRẺ BIẾNG ĂN – NỖI LO CỦA CÁC BẬC CHA MẸ

Biếng ăn là tình trạng trẻ ăn ít, lười ăn, không chịu ăn. Biếng ăn sẽ không còn là câu chuyện than vãn bình thường mà sẽ trở thành nỗi lo ám ảnh luôn thường trực của cha mẹ khi tình trạng này kéo dài.

Trong điều trị biếng ăn kéo dài hay bất kỳ một căn bệnh nào, điều quan trọng nhất là phải tìm hiểu được nguyên nhân: nếu trẻ biếng ăn do nhiễm khuẩn thì điều trị nhiễm khuẩn; nếu do sai lầm về ăn uống thì thay đổi chế độ ăn và cách chế biến món ăn; còn nếu là nguyên nhân tâm lý thì khích lệ, động viên trẻ trong các bữa ăn.

Hầu hết ở trẻ đều có giai đoạn biếng ăn nên cha mẹ đừng vội lo lắng, đừng vội thúc ép trẻ ăn. Bởi điều này chưa chắc đã đem lại hiệu quả mà còn gây tác dụng ngược làm cho tình trạng biếng ăn kéo dài lâu hơn. Mẹ chỉ nên thực sự lo lắng khi trẻ có những biểu hiện sau:

– Mẹ phải chuẩn bị đồ ăn vặt cho trẻ thay thế khi bữa ăn chính của trẻ còn nguyên.

– Lượng thức ăn hàng ngày không thể đáp ứng được nhu cầu về năng lượng cũng như sự phát triển của trẻ.

– Mẹ phải bổ sung thêm các loại vitamin và khoáng chất cho trẻ.

– Trẻ có các triệu chứng như mệt mỏi, giảm cân, khó ngủ, táo bón, hiếu động thái quá, quấy khóc…

Bình thường một bữa ăn của trẻ sẽ kéo dài trong khoảng từ 15 – 20 phút, chậm nhất là 30 phút. Nếu thời gian của trẻ kéo dài hơn, lớn hơn 30 phút thì có thể con bạn đang bị biếng ăn. Trái ngược với tình trạng ăn ngon miệng, tinh thần thoải mái trong mỗi bữa ăn thì trẻ biếng ăn thường hay gào khóc, sợ sệt trước mỗi bữa ăn, không chịu há miệng, quay mặt đi, không hợp tác với người cho ăn…

Khi trẻ bắt đầu có dấu hiệu của bệnh biếng ăn, để tránh tình trạng biếng ăn kéo dài gây ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe và sự phát triển toàn diện của trẻ, mẹ nên cho trẻ sử dụng men vi sinh. Lợi khuẩn sẽ được bảo vệ trước mọi sự tác động của môi trường bao gồm cả môi trường acid trong dạ dày và sự thay đổi của môi trường bên ngoài. Khi đi vào cơ thể, lợi khuẩn sẽ lấn át hại khuẩn, đem lại một hệ tiêu hóa khỏe mạnh. Điều này sẽ giúp trẻ ăn ngon miệng hơn, hấp thu chất dinh dưỡng có trong các món ăn tốt hơn. Việc cho trẻ sử dụng men vi sinh thường xuyên sẽ giúp nhanh chóng cải thiện tình trạng trẻ biếng ăn kéo dài.

Nhiều mẹ có thói quen cho trẻ nhịn ăn và hi vọng con sẽ cảm thấy đói và ăn nhiều hơn. Điều này là hoàn toàn sai mẹ nhé. Theo nghiên cứu của các chuyên gia hàng đầu, càng nhịn ăn, trẻ càng biếng ăn hơn vì khi không ăn, men tiêu hóa không được tiết ra, gây ảnh hưởng đến đường ruột cũng như sự hấp thu chất dinh dưỡng của trẻ. Mẹ hãy chia nhỏ các bữa ăn và xây dựng một thực đơn ăn uống hợp lý và lành mạnh cho trẻ. Nếu có thể, mẹ nên thay đổi cách chế biến món ăn và tham khảo thêm ý kiến của các bác sĩ khoa nhi để nhận được sự tư vấn tốt nhất. Hãy tìm ra nguyên nhân để lựa chọn phương pháp cải thiện phù hợp cho trẻ.

Th15 2018

BÉ HIẾU ĐỘNG, NÊN CHĂM SÓC NHƯ THẾ NÀO?

Khi bé hiếu động đang chơi khắp nơi, thì cũng có nghĩa là bố mẹ luôn phải dõi theo con. Vậy làm cách nào để vẫn dành được thời gian cho bản thân khi chăm sóc bé?

Trong giai đoạn này, thông thường con đã ngủ được theo lịch trình tương đối ổn định. Vì vậy bố mẹ có thể tranh thủ thời gian rảnh khi con ngủ. Nhưng khi con thức thì bố mẹ phải tìm cách để hoàn tất được công việc của mình mà vẫn chơi với con hay có nghĩa là làm cùng con.

Thư giãn

Bé yêu sẽ rất thích thú khi được ra ngoài chơi. Có thể là chơi cát ở công viên, hoặc đi chập chững cùng đi dạo với bố mẹ. Do đó, hãy dắt con cùng đi chơi.

Bố mẹ có thể xây lâu đài cát cùng con, hoặc khuyến khích con đi bộ. Khi con mệt thì cho con vào xe đẩy và đi vài vòng quanh công viên. Biết đâu chơi với con cũng có thể giúp bố mẹ tập thể dục và giảm cân đấy!

Mẹo để trang điểm mà con không quấy phá

Câu trả lời là phải chuẩn bị một cái gương to để có thể trang điểm mà không bị con quấy phá.

Vào buổi sáng, một khi đã cho con ăn và mặc đồ xong thì đến lượt mẹ.

Đặt con vào xe đẩy và đặt con trước cái gương lớn.

Lúc này con sẽ thích thú nhìn ngắm hình trong gương và thường là mẹ sẽ rảnh tay trang điểm mà không bị con quấy phá.

Ra ngoài uống cà phê

Khi có con, bạn sẽ không còn những ngày nhàn nhã cà phê thư giãn với bạn bè như xưa nữa. Tuy nhiên, vẫn có thể gặp gỡ bạn bè nếu lên kế hoạch kỹ càng. Đầu tiên là phải chọn thời điểm đi mà con đã ngủ một lúc trước đó.

Chọn nơi thích hợp cho trẻ em, tốt nhất là những nơi có chỗ chơi cho bé an toàn. Mang theo thức ăn nhẹ cho con. Nếu bạn của bạn không có con nhỏ thì nên báo trước với bạn là mình có thể sẽ không thể ở chơi lâu hơn một giờ.

Nếu con có những quyển sách hay đồ chơi yêu thích, thì nên mang theo để con chơi. Việc này sẽ cho bố mẹ thêm thời gian.

Đi mua thức ăn

Hầu hết bố mẹ thích mua sắm trực tuyến thay cho việc phải vật lộn với việc đi mua sắm mà mang con theo. Tuy nhiên, không phải lúc nào cũng có thể mua sắm trực tuyến.

Mấu chốt chính là lên kế hoạch. Lên danh sách những thứ mà mình sẽ mua và chọn đến cửa hàng vào những thời điểm vắng, thường là giữa buổi sáng hoặc giờ trưa.

Nên đi lúc con vừa ngủ xong, đã ăn no và đã tắm rửa. Những lúc này con ít quấy phá hơn, đặc biệt là sau khi ăn no.

Hãy cho con tham gia “giúp” bố mẹ. Ví dụ như để con bốc quả táo và bỏ vào giỏ. Nói chuyện với con về món đồ được chọn. Ví dụ như: “Con thích quả cam nào? Bố mẹ nên lấy dầu gội màu đỏ hay xanh?”

Mua sắm quần áo

Hầu hết bố mẹ thích đi mua sắm quần áo một mình. Nhưng thỉnh thoảng cũng có lúc bạn cũng phải mang con theo trong lúc mua sắm.

Ngoài việc phải đảm bảo con đã ngủ và thoải mái, bố mẹ cũng cần phải mang theo những thứ để cho con chơi. Có thể là món đồ chơi hoặc quyển sách mà con yêu thích. Hoặc bố mẹ cũng có thể chuẩn bị sẵn những bài hát con thích trong điện thoại, cho con đeo tai nghe và con sẽ tập trung nghe nhạc.

Tốt nhất là đặt con vào xe đẩy và chọn cửa hàng có phòng thay đồ lớn. Phải đảm bảo lúc nào cũng quan sát và giữ trẻ. Thường bé rất thích nhìn vào gương và nhìn bạn khi bạn tranh thủ thay đồ.

Nhìn chung, bất kể làm việc gì với con thì cũng phải linh động. Nhất là khi cho con đi cùng, bố mẹ phải đảm bảo con được mặc loại tã hoặc tã quần thật thoải mái, thấm hút tốt để con có thể chơi vui. Phải chấp nhận là dù có cách tốt thế nào đi nữa thì mọi việc không phải lúc nào cũng suôn sẻ. Con có thể quấy phá bất kể khi nào và những lúc đó bố mẹ sẽ không thể làm như ý mình được. Và hãy lạc quan vì mọi thứ rồi cũng sẽ tốt hơn!

Th15 2018

HƯỚNG DẪN CHĂM SÓC BÉ BỊ BỆNH TAY CHÂN MIỆNG TẠI NHÀ

Trẻ khi đã xác định mắc bệnh tay chân miệng cần phải được nghỉ học từ 7 – 10 ngày để ngăn chặn sự lây lan.

1. Cách ly đúng cách

– Trẻ xác định đã mắc bệnh Tay chân miệng phải được nghỉ học từ 7 – 10 ngày để ngăn chặn sự lây lan.

– Nếu gia đình có nhiều trẻ cùng chung sống, nên cách ly tuyệt đối giữa trẻ lành và trẻ bệnh bằng nhiều cách tùy theo hoàn cảnh gia đình. Giám sát chặt chẽ các hoạt động của trẻ bệnh trong sinh hoạt thường nhật.

– Người lớn khi tiếp xúc và chăm sóc trẻ bệnh nên mang khẩu trang y tế, sau khi tiếp xúc nên rửa tay bằng xà phòng.

2. Giữ vệ sinh cá nhân

– Tắm rửa sạch sẽ cho trẻ mỗi ngày bằng xà phòng và nước sạch.

– Khuyến khích trẻ thường xuyên rửa tay sạch sẽ, đúng cách bằng xà phòng và nước sạch dưới vòi nước chảy để ngăn ngừa sự tái nhiễm bệnh tay chân miệng qua đường tay – miệng nhằm loại bớt sự bám dính của vi rút gây bệnh tay chân miệng trên đôi tay của trẻ.

– Quần áo, tã lót của trẻ bệnh nên được ngâm dung dịch sát khuẩn như dung dịch Cloramin B 2% hoặc luộc nước sôi trước khi giặt.

– Vật dụng cá nhân ăn uống của trẻ như bình sữa, ly uống nước, chén ăn cơm, muỗng ăn… nên được luộc sôi và sử dụng riêng biệt cho từng trẻ.

– Tuyệt đối tránh 3 quan niệm sai lầm thường gặp sau đây: Kiêng tắm, kiêng gió – ủ trẻ quá kỹ – châm chích cho mụn nước mau vỡ ra, đây chính là những nguyên nhân làm cho bệnh của trẻ trầm trọng hơn và là con đường ngắn nhất của tình trạng bội nhiễm vi khuẩn rất nguy hiểm đến tính mạng của trẻ.

3. Tạo môi trường sống trong lành và an toàn

– Người chăm sóc trẻ như cha mẹ, ông bà, người giữ trẻ… cần giữ sạch đôi tay hạn chế gieo rắc vi rút gây bệnh tay chân miệng cho những trẻ lành khác trong gia đình.

– Đồ chơi và vật dụng thường dùng của trẻ cần phải được tẩy trùng sạch sẽ bằng những dung dịch sát khuẩn như dung dịch Cloramin B 2%, dung dịch nước Javel hoặc xà phòng sát khuẩn để tạo tính an toàn cho trẻ khi sử dụng.

– Phòng ốc nơi trẻ sinh hoạt cần thông thoáng, đủ dưỡng khí nhất là sàn nhà nên được lau chùi sạch sẽ thường xuyên bằng các dung dịch khử khuẩn nhằm tạo điều kiện sạch sẽ và an toàn cho trẻ khi sinh hoạt và chơi đùa.

Th15 2018

VẤN ĐỀ CHẬM MỌC RĂNG VÀ BỆNH CÒI XƯƠNG Ở TRẺ

Chậm mọc răng và bệnh còi xương là một trong những vấn đề là những người làm bố, làm mẹ luôn quan tâm hàng đầu.

Trẻ chậm mọc răng có thể do di truyền và thời điểm sinh em bé cũng quyết định thời điểm mọc răng của trẻ. Trẻ sinh đủ tháng sẽ có răng sớm hơn so với bé sinh thiếu tháng. Những em bé sinh thiếu tháng, nhẹ cân cũng sẽ mọc răng chậm hơn các bé bình thường. Tuy nhiên, giới hạn mọc răng đầu tiên của trẻ là 12 tháng tuổi. Điều bạn cần quan tâm là phát hiện sớm nguyên nhân khiến trẻ chậm mọc răng để kịp thời thay đổi chế độ ăn uống và chăm sóc trẻ cho phù hợp.

1. Quá trình mọc răng của trẻ

Ở mỗi trẻ tiến trình mọc răng hoàn toàn khác nhau, có trẻ mọc răng sớm, có trẻ mọc răng muộn. Số răng của trẻ thông thường bằng số tháng tuổi trừ đi 4. Bình thường khi trẻ được 6 tháng tuổi, chiếc răng đầu tiên sẽ mọc. Trẻ bắt đầu mọc răng cửa hàm dưới trước tiên rồi đến răng cửa hàm trên, tiếp theo là răng cối sữa thứ nhất, sau đó là răng nanh. Khi mọc đến răng cối sữa thứ hai cũng là lúc bộ răng sữa đã mọc đủ, 10 răng hàm trên và 10 răng hàm dưới. Lúc này trẻ đã được khoảng 3 tuổi. Tuy nhiên cũng có trường hợp trẻ mọc răng lúc mới 4 tháng tuổi và đến một tuổi đã mọc đầy đủ bộ răng sữa. Hoặc có trẻ không mọc một chiếc răng nào mãi cho đến khi được 2 tuổi.

Tắm nắng cho trẻ, tăng cường vitamin D, điều hòa chuyển hóa hấp thụ canxi chống còi xương.

Trong nhiều trường hợp trẻ phát triển bình thường cả về thể chất và tinh thần dù chưa mọc răng hoặc mọc răng chậm hơn so với tháng tuổi thì đó là do sinh lý. Nếu trẻ mọc răng chậm kết hợp với một số biểu hiện khác như trẻ chậm phát triển chiều cao, cân nặng, ngủ không ngon giấc, đổ mồ hôi trộm ban đêm, thóp rộng… thường là do trẻ bị còi xương do cơ thể bị thiếu hụt vitamin D và chế độ ăn nghèo canxi và phospho…

2. Những nguyên nhân khiến trẻ chậm mọc răng

Trẻ chậm mọc răng do bị còi xương: Những trẻ dễ có nguy cơ còi xương là trẻ sinh non, trẻ sinh đôi, trẻ nuôi bằng sữa ngoài, trẻ quá bụ bẫm, trẻ sinh vào mùa đông… Các dấu hiệu còi xương ở trẻ như: trẻ hay quấy khóc, ngủ không yên giấc, hay giật mình, ra nhiều mồ hôi khi ngủ, xuất hiện rụng tóc vùng sau gáy tạo thành hình vành khăn, các biểu hiện ở xương: thóp rộng, bờ thóp mềm, thóp lâu kín, có các bướu đỉnh, bướu trán (trán dô), đầu bẹp cá trê; trương lực cơ nhẽo, táo bón… Trong trường hợp còi xương cấp tính: trẻ có thể bị co giật do hạ canxi máu. Việc bổ sung vitamin D và canxi dưới dạng thuốc là cần thiết nhưng bạn phải tuân theo chỉ định của bác sĩ. Bạn không nên tự ý cho bé dùng vitamin nói chung và canxi nói riêng vì trẻ có thể bị rối loạn tiêu hóa, chán ăn… do uống vitamin quá liều hoặc trong thời gian dài.

Trẻ chậm mọc răng do bị suy dinh dưỡng: Khi trẻ chậm mọc răng và trẻ có số đo về cân nặng và chiều cao thấp hơn trẻ bình thường với các triệu chứng của còi xương như trên là do trẻ bị suy dinh dưỡng. Chế độ ăn của trẻ ngoài việc đảm bảo các yếu tố chất đường, đạm, tinh bột, chất béo… việc hấp thu và chuyển hóa canxi thành canxi của xương phụ thuộc nhiều vào yếu tố xúc tác quan trọng nhất là vitamin D. Do đó, bạn nên cho trẻ vận động và tắm nắng buổi sáng hàng ngày trước 9 giờ. Bạn cần lưu ý, ánh nắng mặt trời phải được chiếu trực tiếp trên da mới có tác dụng để tay, chân, lưng… của trẻ lộ ra ngoài, nếu qua lần vải thì sẽ còn rất ít tác dụng. Đừng bỏ phí ánh nắng mặt trời – “của trời cho”. Dùng đơn thuần canxi không đủ mà phải đồng thời kết hợp cùng vitamin D.

Về mùa đông không có ánh nắng cho trẻ đi tắm điện ở khoa vật lý liệu pháp tại các bệnh viện. Dưới da có sẵn các tiền vitamin D dưới tác dụng của tia tử ngoại của ánh nắng mặt trời, các tiền vitamin sẽ bị hoạt hóa chuyển thành vitamin D. Vitamin D có tác dụng điều hòa chuyển hóa và hấp thu canxi, phospho.

Trẻ chậm mọc răng do bị thiếu canxi: Nguồn dinh dưỡng chính của bé khoảng 6 tháng tuổi vẫn là sữa mẹ. Thông thường, bé bú mẹ hoàn toàn sẽ được cung cấp đầy đủ canxi. Trường hợp trẻ thiếu canxi dễ xảy ra với nhóm bú bình (kể cả những đứa trẻ bụ bẫm vẫn có thể bị thiếu canxi do nhu cầu về canxi cao hơn trẻ bình thường). Trẻ em và cả người mẹ đều có thể thiếu canxi do chất lượng sữa mẹ kém (nguyên nhân là do người mẹ ăn uống kiêng khem hoặc chế độ dinh dưỡng nghèo nàn).

Mặt khác, tỷ lệ canxi trong thức ăn được hấp thu liên quan đến một tỷ lệ phù hợp của một chất khoáng khác là phospho. Thức ăn có nhiều loại chứa hàm lượng phospho cao nhưng lại có ít loại chứa canxi mà hàm lượng lại thấp như tôm, tép, trứng, sữa, các loại ngũ cốc, rau, củ… Khi tỷ lệ phospho quá cao, trẻ hấp thụ quá nhiều phospho – sự hấp thụ canxi sẽ giảm đi.

Sự cần thiết cho sự hấp thụ canxi là vitamin D. Nguồn cung cấp chủ yếu từ ánh sáng mặt trời chiếm tới 80%. Nếu thiếu nó sẽ bị rối loạn hấp thu và chuyển hóa canxi. Thức ăn hàng ngày (tôm, cua, cá, sữa) chứa nhiều vitamin D nhưng vì vitamin D là một loại vitamin tan trong dầu nên nếu chế độ ăn không đủ chất béo, dù có uống vitamin D cơ thể vẫn không thể hấp thu được.